Ngân hàng từ bỏ mảnh đất “màu mỡ” mang tên công ty tài chính

Nếu như trước đây, các ngân hàng đổ xô vào thị trường công ty tài chính thì sau khi dịch Covid-19 hoành hành, việc này lại diễn ra theo chiều hướng ngược lại.

Theo đó, Ngân hàng VPBank vừa đặt ra kế hoạch đến hết năm 2020 sẽ bán được 49% cổ phận tại Công ty Tài chính TNHH MTV Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng (FE Credit).

Ngân hàng Hàng Hải (MSB), Ngân hàng Sài Gòn – Hà Nội (SHB) cũng đang tìm cách rút bớt cổ phần của mình tại các công ty tài chính. Thế nhưng, ở hướng ngược lại, một loạt các nhà đầu tư nước ngoài lại đang tìm cách mua tổ chức tín dụng để nhằm mở rộng quy mô hoạt động của mình tại thị trường Việt Nam.

Theo thống kê, đang có khoảng 16 công ty tài chính hoạt động tại Việt Nam với các tên tuổi lớn như FCCom (MSB), FE Credit (VPBank), SHB Finance (SHB)…Theo giới chuyên gia nhận định, sau khi VPBank hoàn tất niêm yết trên sàn chứng khoán sẽ tính tiếp chuyện bán bớt vốn ở trong FE Credit.

Trong khi đó, tại ngân hàng SHB cũng đang thông tin việc thoái vốn tại Công ty tài chính SHBFC cho các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài. SHBFC vốn thuộc Công ty tài chính Vinaconex Viettel với vốn điều lệ 1.000 tỷ đồng do SHB sở hữu.

Ở MSB, các cổ động đã xác nhận việc tìm kiếm nhà đầu tư mới là Công ty TNHH Huyndai Card nhằm chuyển nhượng 50% vốn cổ phần tại FCCOM. Tổng giá trị chuyển nhượng là 42 triệu USD nhưng vẫn chưa được NHNN chấp thuận.

Làn sóng rút một hoặc toàn bộ phần vốn khỏi công ty tài chính xuất phát từ việc thị trường vay tiêu dùng đang ngày càng cạnh tranh khốc liệt hơn, do đó nhiều nhà đầu tư nước ngoài thì muốn nhảy vào nhưng người trong cuộc lại có xu hướng thoát ra.

Lãi suất ngân hàng “chạm đáy”

Trong lịch sử ngân hàng chưa bao giờ phải chứng kiến mức lãi suất thấp như hiện nay do tác động của đại dịch Covid-19. Đồng thời với đó, một dòng tiền khác đang được rót vào các nhà băng thông qua kênh trái phiếu.

Hiện tại, mức lãi suất 9,5%/năm cùng 2.000 tỷ đồng trái phiếu do ngân hàng đưa ra để huy động vốn chỉ mất khoảng 60 ngày. Thế nhưng, nếu người dân gửi lãi suất ngân hàng với kỳ hạn dưới 6 tháng thì chỉ đạt mức 5,7%/năm và kỳ hạn từ 12 tháng là 6,3%/năm.

Theo báo cáo nhanh từ SSI Research, gửi lợi tức trái phiếu doanh nghiệp chỉ cao hơn từ khoảng 0,8-1,7%/năm so với mức lãi suất tiền gửi cạnh tranh nhất.

Trong vòng nửa năm 2020, các ngân hàng thương mại đã phát hành 42.500 tỷ đồng trái phiếu với mức lãi suất bình quân là 6,72%/năm trong kỳ hạn 4,7 năm. Tuy nhiên, có nhiều nhà đầu tư cá nhân chỉ mua các trái phiếu với kỳ hạn là 7 năm hoặc 10 năm với lãi suất thả nổi, mức này còn cao hơn lãi suất tiền gửi từ 2-2,6%/năm hoặc đồng thời cam kết mua lại trước hạn sau khoảng 1-5 năm với lãi suất cao hơn khi gửi tiền.

Như vậy, nếu đầu tư vào trái phiếu, người dân có thể nhận lãi suất bình quân từ 10,1%-11,2%/năm trong kỳ hạn tăng dần từ 12 tháng đến 5 năm.

Nhờ vào mức lãi suất cao hơn tiền gửi đã giúp các nhà đầu tư ngày càng quan tâm hơn đến thị trường này. Lợi tức trái phiếu doanh nghiệp cũng cao hơn từ 0,8%-1,7%/năm so với mức lãi suất tiền gửi cạnh tranh nhất. Mặc dù vậy, lợi nhuận sẽ đi kèm với nhiều rủi ro và khiến các nhà đầu tư có thể đối mặt với những thách thức liên quan đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp.

Thách thức của các ngân hàng trong bối cảnh đại dịch Covid-19

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 đang bùng nổ mạnh mẽ như hiện nay, các lãnh đạo ngân hàng TW đầu tiên của thế giới đã đưa ra nhiều kịch bản có thể xảy ra trong thời gian tới.

Theo đó, mặc dù những phát triển tích cực của vaccine rất đáng để hi vọng, thế nhưng nền kinh tế Mỹ vẫn chưa thể hồi phục hoàn toàn, ít nhất là từ nay đến hết năm 2020. Điều đó bắt nguồn từ việc virus lây lan quá nhanh trên khắp thế giới, việc đối phó với đại dịch này có thể còn kéo dài trong thời gian tới.

Chủ tịch Ngân hàng TW Châu Âu cũng đồng quan điểm khi cho rằng, bà không quá quan tâm tới vaccine bởi nó không phải là một điều đơn giản. Chưa kể, khi tung ra thị trường cũng sẽ khiến thế giới được một phen náo loạn sẽ trực tiếp gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới nền kinh tế. Thực tế cũng cho thấy, để sản xuất ra được một loại thuốc có khả năng khống chế virus corona là một điều không hề đơn giản.

Tất cả các lãnh đạo ngân hàng TW đều bày tỏ rõ quan điểm e ngại bởi những tác động tiêu cực của đại dịch đối với nền kinh tế. Trong đó, điều khiến họ lo lắng nhất chính là thiệt hại với năng lực sản xuất của lực lượng lao động. Bên cạnh đó, việc phụ nữ dần bỏ các công việc lao động, doanh nghiệp nhỏ và vừa phá sản hoặc sắp phá sản…

Chính vì vậy, trong thời gian chờ đợi vaccine chính thức ra đời, tập hợp các nhà lãnh đạo đã kêu gọi nhiều nhà hoạch định chính sách tài khoá và tiền tệ đưa ra các phương án hỗ trợ hiệu quả, từ đó tránh tối đa thiệt hại cho nền kinh tế toàn cầu.

Gánh nặng ngân hàng 0 đồng

Vào năm 2015, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã đưa ra quyết định mua lại bắt buộc đối với các ngân hàng gồm Ngân hàng xây dựng (CBBank), Ngân hàng Dầu khí Toàn cầu (GPBank) và Ngân hàng Đại dương (OceanBank). Tưởng rằng việc này có thể giúp giảm bớt gánh nặng cho nền kinh tế quốc gia, thế nhưng sau 5 năm, tình trạng của các nhà băng càng ngày càng khó khăn hơn.

Theo báo cáo của Kiểm toán Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu tại 3 ngân hàng 0 đồng đang ở mức rất cao. Cụ thể như GPBank 2.800 tỉ đồng (chiếm 59,32% dư nợ), OceanBank 14.234 tỉ đồng (chiếm 72,25% dư nợ), VietNam CB 18.073 tỉ đồng (chiếm 95% dự nợ). Trong số đó, tỷ lệ thu hồi nợ xấu lại ở mức rất thấp do ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như tài sản đảm bảo chưa đầy đủ tính pháp lý hoặc khách hàng không thiện chí.

Tại kỳ họp Quốc hội năm 2018, Kiếm toán Nhà nước đã đề nghị cần đưa ra các biện pháp tập trung để xử lý dứt điểm tình trạng này, thậm chí còn tính đến phương án giải thể hoặc phá sản trong bối cảnh số lỗ mỗi năm của các nhà băng này đang lên tới hàng nghìn tỉ đồng.

Tính đến thời điểm hiện tại, cả ba nhà băng trên đều gắn liền với những đại án kinh tế, tham nhũng với khoản tiền thiệt hại lên tới hàng ngàn tỉ đồng. Không chỉ có trách nhiệm của các lãnh đạo điều hành trực tiếp và chỉ đạo mà còn liên quan tới những cán bộ tại NHNN, yêu cầu phải xử lý hình sự để răn đe những trường hợp khác.

Lãi suất vay mua nhà thấp nhất trong thập kỷ vừa qua

Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 vẫn đang gây ảnh hưởng lên nền kinh tế thế giới, nhiều ngân hàng cũng đang đua nhau hạ lãi suất cho vay mua nhà để vừa kích cầu, vừa hỗ trợ người dân dễ dàng hơn khi sở hữu cho mình một căn nhà phù hợp.

Theo đó, tại VPBank đang triển khai chương trình cho khách hàng có nhu cầu vay căn hộ chung cư có sổ hồng với lãi suất từ 5,9%/năm trong 3 tháng đầu tiên, 7,9%/năm trong 6 tháng hoặc 8,9% trong năm đầu tiên.

Tại BIDV cũng giảm mức lãi suất từ 7,6% trong năm đầu tiên và 9,2%/năm trong 3 năm đầu tiên. Điều này sẽ giúp cho khách hàng giảm được một khoản tiền lớn nếu vay mua nhà ở ngân hàng này.

Vietcombank cũng vừa tung ra nhiều gói ưu đãi đặc biệt dành cho khách hàng muốn mua nhà hay oto với vốn lãi suất ưu đãi từ 6,79%/năm, cố định trong vòng 6 hoặc 12 tháng đầu tiên. Theo đó, mức lãi suất này sẽ áp dụng với cá khoản giải ngân bắt đầu từ ngày 20-10 nằm trong kế hoạch thúc đẩy nhu cầu để khách hàng vay tiêu dùng trong dịp cuối năm cận kề.

Đặc biệt, tại ngân hàng OCB, lãi suất vay nhà đã giảm xuống còn 5%/năm. Cụ thể, mức lãi vay mua nhà dự án 4,99%/năm được OCB áp dụng trong quý đầu với khách hàng có khoản vay từ 4 năm trở lên, các trường hợp còn lại được vay với mức 7,99%/năm trong 6 tháng đầu tiên.

Như vậy, so với cùng kỳ năm ngoai, lãi suất cho vay mua nhà đã thấp hơn từ 1-2 điểm phần trăm đồng thời là vùng thấp nhất trong vòng 10 năm trở lại đây. Theo dự báo của các chuyên gia tài chính, khi mà dư địa vay vẫn còn, lãi suất phù hợp với mong muốn của người dân thì nhu cầu tín dụng chắc chắn sẽ được kích hoạt dù còn nhiều ảnh hưởng của Covid-19.

Ngân hàng vẫn lãi lớn bất chấp nợ xấu tăng

Theo báo cáo tài chính quý III/2020, mặc dù nợ xấu tăng nhanh thế nhưng hầu hết các ngân hàng thương mại đều công bố mức lãi của mình.

Cụ thể, lợi nhuận trước thuế đã tăng đối với ACB (15,3%), VPBank (30,5%), NCB (20,1%), SeaBank (65,3%)…Các ngân hàng khác có mức tăng trưởng thấp hơn bao gồm MBBank (6,8%), LienVietPostBank (6,4%), ABBank (6,4%). Như vậy, mức lợi nhuận tăng trưởng bình quân của 18 nhà băng đã công bố đạt mức khoảng 10%.

Về tình hình nợ xấu, trong vòng 3 quý vừa qua, phần lớn các ngân hàng đều cho thấy tốc độ tăng trưởng rõ rệt như Vietcombank (36%), VPBank (15%), MBBank(39,2%)….Chỉ duy nhất có hai ngân hàng là SeaBank và NCB có mức nợ xấu giảm lần lượt là 10 tỷ đồng và 96 tỷ đồng.

Mặc dù nợ xấu vẫn tăng trưởng đột biến thế nhưng các ngân hàng vẫn ghi nhận mức lãi suất tăng là nhờ vào mục “lãi dự thu” hoặc “chi phí dự phòng rủi ro”.

Theo đó, đối với một số món nợ không thể đòi nhưng ngân hàng vẫn được hạch toán vào sổ với lãi dưới hình thức dự thu. Điều này đồng nghĩa với việc trực tiếp tăng lợi nhuận hoặc giảm bớt chi phí dự phòng rủi ro với mục đích giảm bớt lợi nhuận bị khấu trừ.

Báo cáo cũng cho thấy, trong 9 tháng vừa qua, mức “lãi dự thu” không có nhiều biến động, thậm chí là theo báo cáo tài chính có tới một nửa ngân hàng đang cho thấy chiều hướng giảm xuống. Do đó, các ngân hàng lãi lớn vẫn đang có sự dè dặt trong việc trích lập dự phòng, vì vậy việc lãi tăng cũng là điều khá dễ hiểu.  

Việt Nam phấn đấu có từ 3-5 ngân hàng được lên sàn nước ngoài?

Chính phủ vừa có văn bản trình Quốc hội về Kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016-2020 với nội dung tập trung vào các tổ chức tín dụng.

Theo đó, trong giai đoạn từ năm 2016 đến hết tháng 7 vừa qua, toàn bộ các TCTD đã tự xử lý được khoảng 620.700 tỉ đồng nợ xấu, trong đó tự xử lý là 486.100 tỷ đồng (chiếm 78,3% tổng nợ xấu xử lý); nợ xấu bán cho Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt Nam là 126.200 tỉ đồng (chiếm 20,3%).

Tỉ lệ nợ xấu nội bảng của hệ thống các TCTD đang ở mức 1,92%, cao hơn khoảng 1,63% so với cuối năm 2019 nhưng vẫn đang ở trong giai đoạn có thể duy trì và kiểm soát dưới 3%. Mặc dù vậy, trước ảnh hưởng nghiêm trọng của đại dịch Covid-19 có thể sẽ khiến nhiệm vụ duy trì nợ ấu dưới 3% trở nên khó khăn hơn từ nay đến cuối năm.

Theo báo cáo cũng ghi nhận giai đoạn vừa qua xử lý, đồng thời xoá bỏ tình trạng đầu tư chéo, sở hữu chéo; các cổ đông, nhóm cổ đông lớn thao túng hay điều phối ngân hàng đã được kiểm soát cơ bản. Tính từ năm 2017-2019, nhiều ngân hàng thương mại có vốn nhà nước đã có nhiều động thái tích cực để thoái vốn tại doanh nghiệp, thu về số vốn tương đương là 2.235,7 tỉ đồng.

Mặc dù vậy, nhiệm vụ cơ cấu các TCTD vẫn còn nhiều hạn chế và khiến nhiều nhà băng gặp khó khăn. Ví dụ như việc thực hiện giải pháp xử lý nợ xấu, quá trình xử lý nợ xấu,…đang bị kéo dài.

Trước thực trạng đó, Chính phủ đưa ra mục tiêu giai đoạn từ 2021-2025 sẽ hoàn thiện các thể chế trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng để phù hợp hơn với xu thế phát triển chung của thị trường, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh và ổn định của hệ thống. Song song với đó sẽ đẩy mạnh hơn phát triển thanh toán không dùng tiền mặt, tối ưu mô hình mạng lưới ATM và POS, tăng số lượng doanh nghiệp và cùng người dân tiếp cận với các dịch vụ tài chính hay ngân hàng từ các TCTD cung cấp.

Các nhà băng Mỹ lãi khủng trong mùa Covid-19

Mặc dù đại dịch Covid-19 đang gây ảnh hưởng đến nền kinh tế chung của Mỹ thế nhưng các ngân hàng lớn tại quốc gia này vẫn ghi nhận mức lợi nhuận khổng lồ.

Theo báo cáo mới nhất của JPMorgan Chase, mức lợi nhuận hiện đã đạt 9,4 tỷ USD trong quý III, tăng 4% so với cùng kỳ năm ngoái, vượt khỏi mức trông đợi của giới chuyên gia phân tích. Thời gian qua, nhà băng này đã được hưởng lợi từ sự bùng nổ thị trường chứng khoán, là nguyên nhân mà các công ty tập trung phát hành các loại hình trái phiếu và cổ phiếu. Báo cáo cho thấy, chỉ tính riêng mảng ngân hàng đầu tư và doanh nghiệp, JPMorgan đã đạt lợi nhuận 4,3 tỷ USD so với quý trước và tăng 52%. Con số này có được nhờ vào IPO, giúp ngân hàng đã nhận được nhiều mức chi phí bảo lãnh hơn. Mặt khác, ở hạng mục doanh thu từ cho vay mua nhà cũng tăng vọt do người dân đang hưởng nhiều chính sách lãi suất thấp.

Mặc dù ghi nhận doanh thu tốt, thế nhưng giám đốc JPMorgan cho biết ông vẫn đang rất lo lắng về tình hình kinh tế vì còn tiềm ẩn nhiều bất ổn.

CitiBank cũng ghi nhận doanh thu từ giao dịch và đầu tư với 3,2 tỷ USD, giảm 3,4% so với cùng kỳ năm 2019 nhưng vẫn có lãi trong bối cảnh hiện nay.

Goldman Sachs cho biết lợi nhuận của họ cũng tăng gấp đôi lên 3,6 tỷ USD, vượt ngoài dự báo của Wall Street với mức doanh thu tăng 30% so với năm ngoái. Ngân hàng này cũng được hưởng lợi chủ yếu từ thị trường chứng khoán trong 6 tháng trở lại đây. Riêng mảng quản lý tài sản, phí bảo lãnh phát hành cổ phiếu cũng đã tăng lên mạnh mẽ nhờ vào làn sóng IPO.

Ứng dụng eKYC của các ngân hàng

Trong bối cảnh nhu cầu ngày càng cao của khách hàng ở vấn đề bảo mật và sự tiện dụng, trong năm 2020 đã có nhiều ngân hàng cùng thí điểm thực hiện mở tài khoản không qua tiếp xúc như VPBank, MB, TPBank, Viet Capital Bank và HD Bank. Trước những thành công đã đạt được, sắp tới đây sẽ có thêm nhiều ngân hàng đưa eKYC vào ứng dụng hoạt động của mình, đáng kể đến như MSB, SeABank, Nam A Bank,…

Cụ thể, tại Nam A Bank, eKYC sẽ chính thức được ra mắt vào tháng 9 và được giới thiệu là khác biệt nhất trên thị trường hiện nay khi tích hợp đầy đủ các kênh online, quầy giao dịch hay thiết bị tự động. Song song với đó, nhà băng cũng sẽ đưa ra kênh giao dịch mới One Bank – hệ thống máy giao dịch thông qua video tự động, cho phép khách hàng được nộp tiền từ xa hay mở tài khoản không cần đến quầy giao dịch.

Tại MSB, eKYC cũng sẽ bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 10 với bước tiến mạnh nhất ở phương thức nhận diện khách hàng bằng sinh trắc học như vân tay hay Face ID. Bằng công nghệ này, ngân hàng sẽ giảm bớt được các thủ tục liên quan tới định danh, từ đó hỗ trợ khách hàng giao dịch nhanh chóng, tiện lợi hơn. Đặc biệt nó sẽ góp phần giảm thiểu các vấn đề liên quan đến giả mạo chữ kỹ, mất mát hồ sơ hay đánh cắp thông tin cá nhân.

Còn ở SeABank, eKYC cũng sẽ đi vào hoạt động vào tháng 10 tới đây và liên tiếp được cập nhật để mang tới những tiện lợi nhất cho khách hàng. Bên cạnh các dịch vụ tài chính như ở nhiều nhà băng khác, khách hàng cũng sẽ được nắm tình hình các khoản tài chính khả dụng, khoản nợ cá nhân đồng thời giúp họ có cái nhìn tổng quan hơn về thu nhập và chi tiêu của mình.

Dự đoán ngân hàng tiếp tục giảm lợi nhuận

Sự ảnh hưởng của Covid-19 đang khiến các ngân hàng phải đau đầu về bài toán lợi nhuận từ nay đến cuối năm.

Theo đó, một số nhà băng đã hoàn thành được 50% kế hoạch lợi nhuận trong năm 2020 nhưng một số ngân hàng khác lại mới chỉ đạt từ 20-30%. Dựa trên quy định của Thông tư 01, các ngân hàng được phép cơ cấu, giãn nợ cho các khách hàng đến hết tháng 9/2020 và không được thu khoản lãi dự thu khác.

Việc này đã khiến cho lợi nhuận trong nửa đầu năm 2020 bị sụt giảm so với cùng kỳ năm 2019, thế nhưng tình trạng này có thể kéo dài đến hết quý III/2020 nếu Thông tư 01 không được gia hạn.

Lý do của việc này xuất phát từ tái cơ cấu, giãn nợ và giảm lãi vay mới cho khách hàng khiến ngân hàng phải cắt giảm lợi nhuận. Chưa kể, việc doanh nghiệp khó khăn và mất khả năng thanh toán sẽ khiến tình trạng nợ xấu tăng, do đó các nhà băng phải lên kế hoạch tăng trích lập dự phòng rủi ro và khiến lợi nhuận bị giảm.

Theo SSI dự báo, nhóm Big4 sẽ là những ngân hàng đi đầu trong việc này với quỹ dự phòng có thể tăng gấp đôi so với cùng kỳ, khiến lợi nhuận bị giảm 23% so với cùng kỳ năm ngoái, ước tính đạt hơn 9.000 tỉ đồng.

Dự báo có 12/18 ngân hàng đang có xu hướng giảm lợi nhuận với khoảng 11,9% do ảnh hưởng của đại dịch. Ngoài ra, định hướng chính sách của Ngân hàng Nhà nước đối với việc chia sẻ khó khăn cho các doanh nghiệp vượt qua giai đoạn khó khăn còn nhiều hạn chế và chưa thực sự hiệu quả.